Giáo dục Việt Nam sẽ như thế nào đến năm 2030?

03/03/2022 06:46
Tiến sĩ khoa học Phạm Đỗ Nhật Tiến
GDVN- Mục đích của bài viết này chính là muốn thử nhận dạng giáo dục Việt Nam trong 10, thậm chí 25 năm tới, trên cơ sở vận dụng một số tham chiếu cần thiết.

Giáo dục Việt Nam sẽ như thế nào đến năm 2030? Đó là một câu hỏi khó mà các nhà soạn thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 phải trả lời.

Dĩ nhiên, trong bối cảnh của một thế giới biến động nhanh chóng và khó lường như hiện nay thì dự báo về tương lai của giáo dục là điều không thể.

Vì thế, trong bài viết này, tác giả nêu ra những khả năng có thể xảy ra về tương lai của giáo dục được trao đổi từ những góc nhìn khác nhau hiện nay trên thế giới. Trên cơ sở đó đề xuất một tầm nhìn về giáo dục Việt Nam đến 2030 và 2045.

Các mô hình giáo dục đến 2030

Năm 2015 được đánh dấu là năm mở đầu cho bước chuyển của thế giới từ việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ sang các mục tiêu phát triển bền vững (SDG). Từ đó đến nay, trong vòng 7 năm, thế giới đã chứng kiến nhiều đổi thay mang tính phá hủy và vì thế tầm nhìn về giáo dục 2030 cũng có sự vận động liên tục. Chí ít đã hình thành một số mô hình về giáo dục 2030 như sau:

Thứ nhất, giáo dục 2030 vì sự phát triển bền vững

Trong Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 2015, thì mục tiêu phát triển bền vững SDG4 về phát triển giáo dục là: “Bảo đảm giáo dục có chất lượng, bình đẳng và bao trùm, tăng cường các cơ hội học tập suốt đời cho mọi người”.

Việc thực hiện mục tiêu này xuyên suốt 17 mục tiêu SDGs và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự thành công của Chương trình nghị sự 2030. Chính vì lẽ đó mà giáo dục cũng đã có một chương trình nghị sự mới của riêng mình, gọi là Giáo dục 2030, được thông qua bởi Tuyên bố Incheon ngày 21/5/2015 tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới (World Education Forum, 2015).

Ảnh minh họa: VNU

Giáo dục 2030 xác lập một tầm nhìn mới về giáo dục, theo đó giáo dục là chìa khóa trong việc thay đổi cuộc sống của cá nhân, cộng đồng và xã hội; là động lực chính của phát triển cũng như của việc thực thi các SDGs khác. Từ đó, thay vì những giới hạn của chương trình giáo dục cho mọi người trước đây, giáo dục 2030 là một nghị trình mới về giáo dục mang tính tổng thể, hướng tới mọi cấp học và trình độ đào tạo, mọi phương thức giáo dục, trên mọi chiều đo (tiếp cận, công bằng và hòa nhập, bình đẳng giới, chất lượng), tập trung vào các kết quả học tập đầu ra trong một tiếp cận về học tập suốt đời.

Mô hình giáo dục 2030 này chính là một tham chiếu cho việc xây dựng các chiến lược giáo dục.

Thứ hai, giáo dục 2030 đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trước các thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0, OECD tiến hành từ năm 2015 Dự án “Tương lai của giáo dục và kỹ năng 2030”.

Câu hỏi đặt ra là “Làm thế nào chúng ta có thể chuẩn bị cho học sinh để làm những công việc chưa được tạo ra, giải quyết những thách thức xã hội chưa thể lường trước và sử dụng các công nghệ chưa được phát minh? Làm thế nào chúng ta có thể trang bị cho họ để vươn lên trong một thế giới kết nối, nơi họ cần hiểu và đánh giá những quan điểm và tầm nhìn khác nhau, tương tác một cách trọng thị với người khác và hành động có trách nhiệm đối với sự bền vững và hạnh tồn của mọi người?” (OECD, 2018).

Để trả lời câu hỏi trên, hiện Dự án đang ở giai đoạn xây dựng cái gọi là “La bàn học tập 2030” (OECD Learning Compass 2030) với quan niệm “Giáo dục không còn là việc dạy người học một điều gì đó; điều quan trọng hơn là dạy họ phát triển một la bàn tin cậy cùng các công cụ điều hướng để tìm ra con đường riêng của họ trong một thế giới ngày càng phức tạp, đầy biến động và không chắc chắn” (OECD, 2019).

La bàn này xác định các kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trị mà người học cần để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình và đóng góp vào sự hạnh tồn của cộng đồng và thế giới.

Theo đó, trước hết người học phải là người làm chủ tiến trình học tập trên cơ sở xây dựng ba nền tảng cốt lõi để có thể phát triển đầy đủ tiềm năng của mình, trở thành thành viên lành mạnh và người đóng góp có trách nhiệm cho xã hội.

3 nền tảng cốt lõi đó là: Nền tảng nhận thức, bao gồm việc sáng chữ và sáng tính toán, trên đó hình thành sáng số và sáng dữ liệu (digital literacy and data literacy); Nền tảng sức khỏe, bao gồm sức khỏe thể chất và tinh thần; Nền tảng xã hội và cảm xúc, bao gồm các giá trị.

Mô hình tương lai của giáo dục và kỹ năng 2030 nói trên bổ sung cho mô hình giáo dục 2030 vì sự phát triển bền vững và cũng là tham chiếu quan trọng cho việc xây dựng chiến lược giáo dục.

Thứ ba, giáo dục 2030 hậu COVID

Từ thành công của các hệ thống giáo dục toàn cầu trong việc ứng phó với đại dịch, đã hình thành ba nhận thức mới quan trọng như sau:

Giáo dục không nhất thiết phải đóng khung trong bốn bức tường nhà trường mà có thể thực hiện ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào miễn là có tư duy cùng những quan hệ phù hợp;

Các hệ thống giáo dục không đến nỗi quá nặng nề để chuyển đổi mà có thể thay đổi rất nhanh miễn là có sự đồng thuận của các chủ thể giáo dục;

Chỉ có các hệ thống giáo dục kiên cường, sẵn sàng ứng phó với khủng hoảng mới có thể hoàn thành sứ mệnh của mình trong việc đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và nhu cầu nhân lực của sự phát triển kinh tế-xã hội.

Ảnh minh họa: Ngọc Ánh

Vì thế, bước sang giai đoạn hậu COVID, “chỉ đưa giáo dục trở lại hiện trạng bình thường cũ, vốn đã không đáp ứng được nhu cầu của tất cả người học, không phải là một lựa chọn. Do đó, các nhà hoạch định chính sách phải hỗ trợ tất cả các chủ thể trong hệ thống giáo dục trong việc duy trì xung lực của hành động khẩn cấp tập thể để tiến tới trạng thái bình thường tốt hơn” (OECD, 2020).

Muốn vậy, ngoài việc đối diện với thách thức quan trọng về khả năng ứng đáp của giáo dục trước những yêu cầu phức tạp của người học trong giai đoạn hậu công nghiệp gắn liền với cách mạng công nghiệp 4.0, các hệ thống giáo dục ngày nay còn đối diện môt thách thức mới. Đó là thách thức bức thiết về khả năng tự cường của hệ thống giáo dục không phải chỉ để vượt qua khủng hoảng do đại dịch COVID-19 gây nên mà còn nhiều khủng hoảng nữa có thể xảy ra trong tương lai.

Trên cơ sở các nghiên cứu về chính sách giáo dục suốt một thập kỷ qua cùng với những sáng kiến ứng phó và tự cường của các hệ thống giáo dục trong đại dịch Covid-19, các nhà nghiên cứu thuộc khối OECD chỉ ra rằng các hệ thống giáo dục hậu COVID, hướng đến 2030 và sau này, phải là các hệ thống giáo dục trong điều kiện bình thường tốt hơn với hai đặc trưng cơ bản, một là ứng đáp với các đòi hỏi của cách mạng công nghiệp 4.0, hai là kiên cường trước các thách thức của mọi khủng hoảng.

Như thế, chỉ trong vòng 7 năm, kể từ năm 2015, sự bổ sung liên tục về yêu cầu đối với giáo dục 2030 cho thấy một điều là sự vận động của giáo dục ngày nay đã khác trước rất nhiều.

Để nghiên cứu về giáo dục trước yêu cầu nêu trên, UNESCO đã tiến hành một chương trình nghiên cứu kéo dài 2 năm nay về các tương lai của giáo dục để đi tới nhận định rằng cần một khế ước xã hội mới về giáo dục (UNESCO, 2021).

Khế ước xã hội mới về giáo dục

Khế ước xã hội cũ về giáo dục chủ yếu tập trung vào việc xây dựng tinh thần công dân quốc gia cùng nỗ lực phát triển kinh tế với tầm nhìn ngắn hạn. Vì thế các hệ thống giáo dục thường tái lập và duy trì chính các nhân tố đe dọa tương lai chung, khiến tiềm năng của giáo dục trong việc tạo nên sự thay đổi bị hạn chế.

Hiệp hội thảo luận về chiến lược phát triển giáo dục đại học
Hiệp hội thảo luận về chiến lược phát triển giáo dục đại học

Khế ước xã hội mới về giáo dục cần khắc phục các hạn chế trong khế ước xã hội cũ thông qua việc thiết lập tầm nhìn chung mới cùng các nguyên tắc và cam kết mới để giáo dục góp phần mở ra các con đường mới hướng tới các tương lai mong muốn.

Trước hết về mục tiêu, giáo dục phải hướng tới một mục tiêu mới là làm cho mọi người đoàn kết bên nhau, có kiến thức và tinh thần sáng tạo, chung sức vì các tương lai hòa bình và bền vững cho tất cả mọi người trên cơ sở sự công bằng về kinh tế, xã hội và môi trường.

Tiếp nữa là hai nguyên tắc nền tảng mới. Thứ nhất, nguyên tắc trước đây với quy định giáo dục là một trong những quyền cơ bản của con người cần được mở rộng thành nguyên tắc giáo dục có chất lượng suốt đời là một trong những quyền cơ bản của con người.

Hai là, đặc trưng công của giáo dục phải vượt khỏi quan niệm rằng giáo dục được cung ứng, cấp tài chính và quản lý bởi các cơ quan công quyền; ngày nay giáo dục phải được xây dựng và phát triển trên nguyên tắc đó là sự nghiệp toàn xã hội và là một lợi ích chung, theo nghĩa giáo dục là lĩnh vực được quản trị chung và là hoạt động tập thể trong việc đồng sáng tạo và đồng sử dụng kho tàng tri thức nhân loại vì lợi ích của mọi người.

Một số đề xuất ban đầu về đổi mới giáo dục gồm:

Hoạt động sư phạm phải được tổ chức dựa trên các nguyên tắc hợp tác, cộng tác và đoàn kết;

Chương trình giáo dục cần nhấn mạnh việc học tập về sinh thái, liên văn hóa và liên ngành; hỗ trợ người học tiếp cận và sản sinh tri thức đồng thời phát triển năng lực phê phán và ứng dụng tri thức;

Việc giảng dạy cần được chuyên nghiệp hóa hơn trong nỗ lực hợp tác, nơi nhà giáo được ghi nhận là nhà sản xuất tri thức và nhân vật chủ chốt trong hành trình chuyển đổi giáo dục và xã hội;

Nhà trường phải là những địa điểm giáo dục được bảo vệ vì sự hòa nhập, tính công bằng và sự hạnh tồn của cá nhân và tập thể mà nhà trường theo đuổi; nhà trường cũng phải được hình dung lại để thúc đẩy sự chuyển đổi của thế giới hướng tới những tương lai bình đẳng hơn, công bằng hơn và bền vững hơn;

Chúng ta cần tận hưởng và mở rộng các cơ hội giáo dục diễn ra trong suốt cuộc đời và trong các không gian văn hóa và xã hội khác nhau.

Đó là các ý tưởng và đề xuất cơ bản trong Khế ước xã hội mới về giáo dục.

Thử hình dung giáo dục Việt Nam 2030 và tầm nhìn 2045

Một là, giáo dục Việt Nam 2030

Để trả lời câu hỏi giáo dục Việt Nam 2030 sẽ như thế nào cần dựa vào các tham chiếu sau:

Trước hết là Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2021-2030: Theo đó, đến năm 2030, nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, xã hội phồn vinh, dân chủ, công bằng, văn minh, trật tự, kỷ cương, an toàn, với tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%.

Muốn vậy, phải “đẩy nhanh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, trọng tâm là hiện đại hóa và thay đổi phương thức giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Chú trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; có chính sách vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia cả trong và ngoài nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức có phẩm chất tốt, chuyên nghiệp, tận tụy, phục vụ nhân dân. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”.

Ảnh minh họa: T.L

Tiếp nữa là các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục: Quán triệt và kế thừa các quan điểm chỉ đạo trong Nghị quyết 29/NQ-TW đóng vai trò đặc biệt quan trọng bởi lẽ Nghị quyết 29 chính là cương lĩnh định hướng cho sự vận động của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, phù hợp với các khuyến nghị của Diễn đàn kinh tế thế giới về giáo dục sẵn sàng cho tương lai (World Economic Forum, 2015, 2017).

Cùng với đó là Quyết định 622 ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, trong đó ngành giáo dục có trách nhiệm hoàn thành mục tiêu 4, với 8 mục tiêu cụ thể, nhằm đảm bảo đến năm 2030 hình thành nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện, thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người.

Một văn bản quan trọng nữa là Quyết định 749 ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó giáo dục là một lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số, hướng tới đổi mới cách dạy và học trong nhà trường trên nền tảng công nghệ số, đào tạo cá thể hóa.

Cuối cùng là các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế về giáo dục 2030 như đã trình bày ở trên. Đó là hình ảnh về một hệ sinh thái giáo dục, một mặt hướng đến mục tiêu phát triển bền vững theo Nghị trình giáo dục 2030, mặt khác có sự chuyển đổi về phương thức tổ chức và hoạt động theo hướng giáo dục mở, giáo dục số.

Trên cơ sở các tham chiếu trên, với lưu ý rằng đại dịch COVID-19 một mặt đang đe dọa đến các thành tựu của giáo dục, mặt khác đang tạo cú hích cho chuyển đổi số, có thể phát biểu về giáo dục Việt Nam 2030 như sau: Hình thành hệ thống giáo dục số, mở, linh hoạt và liên thông, thúc đẩy giáo dục suốt đời có chất lượng cho mọi người, góp phần thực hiện thành công khâu đột phá chiến lược trong phát triển nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

Hai là, tầm nhìn giáo dục Việt Nam đến 2045

Các tham chiếu cho vấn đề này là như sau:

Trước hết là tầm nhìn của Việt Nam đến 2045. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tiếp nữa là các dự báo về thế giới vào những năm 2050. Về kinh tế, Báo cáo thế giới 2050 dự báo nền kinh tế thế giới có thể tăng hơn gấp đôi về quy mô vào năm 2050, vượt xa tốc độ tăng dân số, do tiếp tục cải tiến năng suất dựa trên công nghệ; 7 nền kinh tế lớn nhất thế giới lần lượt sẽ là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Braxin, Nga, Mexico; Vương quốc Anh có thể tụt xuống vị trí thứ 10 vào năm 2050, Pháp ra khỏi top 10 và Ý ra khỏi top 20 khi họ bị các nền kinh tế mới nổi đang phát triển nhanh hơn như Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam lần lượt vượt qua; nhưng các nền kinh tế mới nổi cần phải tăng cường đáng kể thể chế và cơ sở hạ tầng của mình nếu họ muốn phát huy tiềm năng tăng trưởng dài hạn (PwC, 2017).

Về xã hội, một số nghiên cứu đã dự báo về việc hình thành xã hội 5.0 (Atsushi Deguchi và cộng sự, 2020) là xã hội trong đó cách mạng công nghệ chuyển trọng tâm từ tiến bộ công nghệ cùng thiết bị, máy móc sang vai trò của con người với đổi mới, sáng tạo; đó là xã hội mở đường cho việc chuyển từ cách mạng công nghiệp 4.0 sang cách mạng công nghiệp 5.0, đặc trưng bởi mối quan hệ việc làm cân bằng giữa con người với những thiết bị công nghệ ngày càng thông minh; đó là nơi mà chủ nghĩa nhân văn, sự hòa nhập, tính sáng tạo, y tế, giáo dục và các quyền con người sẽ được bảo đảm và phát triển cùng với lợi nhuận và tiến bộ kỹ thuật số (Kiky Sondh, 2021; Richter, 2020)….

Cuối cùng là các dự báo về giáo dục 2050: Hiện nay, UNESCO đang dẫn đầu với việc triển khai từ năm 2019 Sáng kiến các tương lai của giáo dục. Bản công bố Khế ước xã hội mới về giáo dục nói ở trên là một kết quả quan trọng của sang kiến này. Bên cạnh đó là Báo cáo “Suy nghĩ cao hơn và xa hơn: Viễn cảnh về các tương lai của giáo dục đại học đến năm 2050” (UNESCO IESALC, 2021).

Vấn đề đặt ra ở đây là trả lời hai câu hỏi: 1) Bạn muốn giáo dục đại học 2050 như thế nào? 2) Làm thế nào để giáo dục đại học có thể đóng góp cho những tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người vào năm 2050?

Việc trả lời hai câu hỏi được thực hiện theo tiếp cận tham dự, lấy ý kiến chuyên gia và tổ chức hội thảo. Vì thế báo cáo đã đưa ra nhiều ý tưởng, khả năng và đề xuất cho các tương lai của giáo dục đại học; tập trung vào việc định hình các mục đích, chức năng, phương thức của giáo dục đại học trong tương lai; từ đó gửi đi thông điệp cơ bản, giáo dục đại học 2050 phải:

Chịu trách nhiệm tích cực đối với nhân loại chung của chúng ta; Thúc đẩy sự hạnh tồn và sự bền vững; Phát huy sức mạnh từ sự đa dạng của các nền văn hóa và nhận thức; Giữ vững và tạo ra sự kết nối với nhau ở nhiều cấp độ.

Như thế, để hướng tới một tương lai mong muốn về thế giới bền vững, bình đẳng, công bằng, đem lại sự hạnh tồn cho mọi người vào năm 2050, các hệ thống giáo dục phải được thiết kế lại theo Khế ước xã hội mới về giáo dục để trở thành các hệ thống xanh, số và kiên cường, trong đó giáo dục suốt đời có chất lượng cho tất cả mọi người là một quyền cơ bản của con người.

Trên cơ sở những tham chiếu trên, đặc biệt chú ý đến tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với nước ta, cùng với giả định rằng giáo dục Việt Nam 2030 đã đạt được mục đích là hình thành hệ thống giáo dục số, mở, linh hoạt và liên thông thì có thể phát biểu về tầm nhìn giáo dục Việt Nam 2045 như sau: Đến năm 2045, xã hội Việt Nam thực sự là xã hội học tập, trong đó hệ thống giáo dục quốc dân đóng vai trò nòng cốt trong một hệ sinh thái giáo dục kiên cường, xanh, số và mở, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời có chất lượng cho mọi người, góp phần tích cực vào việc đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nói như vậy để thấy trả lời câu hỏi về các tương lai của giáo dục là một bài toán khó, thường có nhiều đáp án do cách tiếp cận khác nhau và đánh giá khác nhau về các yếu tố tác động lên quỹ đạo chuyển động của giáo dục.

Mục đích của bài viết này chính là muốn thử nhận dạng giáo dục Việt Nam trong 10, thậm chí 25 năm tới, trên cơ sở vận dụng một số tham chiếu cần thiết thường được sử dụng trong việc làm này.

Dĩ nhiên, những đề xuất trong bài viết này còn thiếu độ tin cậy cần thiết bởi lẽ mới chỉ chủ yếu dựa trên suy luận ít nhiều mang tính cá nhân. Vì thế, bài viết này chỉ giới hạn ở một mong muốn là khơi gợi được, thúc đẩy được sự quan tâm của các nhà khoa học đến việc trao đổi, tranh luận, làm rõ tầm nhìn về giáo dục Việt Nam tại thời điểm của hai cột mốc quan trọng là năm 2030 và 2045 khi mà tầm nhìn về sự phát triển của đất nước vào hai thời điểm này đã được chỉ ra trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2021-2030.

Tiến sĩ khoa học Phạm Đỗ Nhật Tiến

HỌC VÀ LÀM THEO LỜI BÁC DẠY

TIẾNG DÂN

TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG

TỪ HỘI TRƯỜNG DIÊN HỒNG

Tư vấn pháp luật

BIỂN ĐÔNG